Bệnh gút và những khó khăn trong điều trị


Bệnh gút (bệnh thống phong) là một bệnh được biết đến lâu đời nhất của loài người (đã hơn 2.000 năm), trước đây được coi là “bệnh của người giàu”, bởi vì liên quan đến chế độ ăn dư thừa chất đạm. Ở Việt Nam, hiện có đến hàng triệu người đang phải khổ sở vì bệnh gút. Việc điều trị còn có một số khó khăn, nhất là người cao tuổi (NCT).

Những ai dễ bị mắc bệnh gút?
Bệnh gút thấy ở người già nhiều hơn ở người trẻ và thường bắt đầu ở lứa tuổi 40 - 60. Với phụ nữ, tỷ lệ mắc bệnh gút rất thấp, thường xuất hiện sau khi mãn kinh. Nguyên nhân của bệnh gút là do sự tăng cao chất axit uric trong máu rồi được đào thải ra ngoài bằng nước tiểu một cách kịp thời (chiếm 90%). Khi axit uric tăng trong máu mà không được đào thải ra ngoài bằng nước tiểu một cách kịp thời, chúng kết hợp lại và tạo nên những khối trong suốt gọi là tinh thể muối urat, tích tụ ở các khớp xương (gọi là tophus), các gân, mô, bao khớp và dẫn đến sự viêm, sưng tấy cũng như đau nhức. 3/4 số người bị gút vừa bị sưng ở ngón chân cái, vừa bị đau ở các khớp xương khác như đầu gối, mắt cá cổ chân, cổ tay, ngón tay hay khuỷu tay. Phụ nữ thường bị ở tay. Như vậy, bệnh gút có liên quan mật thiết đến chế độ ăn (ăn nhiều phủ tạng động vật, hải sản), uống (uống nhiều rượu bia, chất có cồn). Sự rối loạn chuyển hóa purin gây tăng axit uric trong máu thường còn kèm theo nhiều rối loạn chuyển hóa khác như rối loạn lipid máu (trên 84%), rối loạn đường máu, tăng huyết áp, suy giảm chức năng gan, sỏi thận, suy thận. Và bệnh tăng huyết áp, đái tháo đường, tăng mỡ máu, hẹp lòng động mạch (do xơ vữa động mạch), phẫu thuật, các bệnh lý và tổn thương nặng, đột ngột, ít vận động cũng làm tăng axit uric máu...

Điều trị còn nhiều khó khăn

Hầu hết các loại bệnh, nhất là nhiễm khuẩn, khi xác định được nguyên nhân thì việc điều trị thuận lợi hơn rất nhiều, nhưng với bệnh gút việc điều trị dứt điểm không đơn giản chút nào, đặc biệt ở NCT. Tuổi càng cao thì việc điều trị bệnh gút càng có nhiều bất lợi, bởi vì, sức đề kháng ngày càng giảm. Một khó khăn khá phổ biến trong điều trị gút nói chung và với NCT nói riêng, đó là dùng thuốc gì có hiệu quả, bởi NCT thường ít khi tuân thủ đúng chỉ định của bác sĩ điều trị, thường chỉ dùng thuốc khi bị cấp tính, sau đó ngưng thuốc trong khi bệnh gút vẫn âm thầm tiến triển. Lý do ngại dùng thuốc là vì điều trị bệnh gút hiện nay vẫn là dùng thuốc giảm đau, chống viêm và hạ axit uric máu, chưa có một loại thuốc nào đặc trị. Tuy nhiên, thuốc giảm đau chống viêm đặc hiệu là colchicin, song thuốc này có tác dụng phụ là gây rối loạn tiêu hóa, ảnh hưởng đến dạ dày và không dùng được cho những bệnh nhân bị suy gan, suy thận, bệnh nhân có cơ địa dị ứng. Hơn nữa nếu dùng quá liều thì dễ gây ngộ độc, rất nguy hiểm, vì vậy, người dùng có thể e ngại mỗi khi dùng thuốc. Trong trường hợp dùng thuốc chống viêm, giảm đau một cách nhanh chóng là loại không steroid (hoặc kết hợp với thuốc cochicin) nhưng các thuốc này vẫn có nhiều tác dụng phụ (tiêu chảy, rối loạn tiêu hóa, loét dạ dày tá tràng, tăng huyết áp, giảm bạch cầu trung tính hoặc trầm trọng hơn là có thể hủy hoại tủy xương nếu dùng ở liều cao). Ở NCT có cơ địa dị ứng thì việc dùng thuốc allopurinol để làm giảm axit uric máu cũng gặp không ít khó khăn, cần phải cân nhắc thật kỹ.
Đây là thuốc có tác dụng làm giảm nồng độ axit uric máu tương đối hiệu quả, tuy nhiên khi sử dụng lâu dài có thể gây sỏi thận, suy thận cùng nhiều biến chứng khác của nó, đặc biệt rất dễ gây dị ứng (nổi mẩn, ngứa, trầm trọng hơn là sốc phản vệ gây tử vong nếu không cấp cứu kịp thời). Bên cạnh đó, NCT có thể mắc thêm các bệnh khác như thoái hóa khớp, viêm khớp dạng thấp, rất dễ chẩn đoán nhầm với bệnh gút, trong khi việc điều trị không giống nhau, từ đó có thể đưa đến các tác dụng không mong muốn, thậm chí bệnh gút vẫn tồn tại. NCT cũng có thể cùng một lúc mắc cả 2 hoặc 3 bệnh (gút, viêm khớp dạng thấp, thoái hóa khớp) thì việc điều trị càng khó khăn, đặc biệt là lạm dụng thuốc corticoid gây nhiều biến chứng nguy hiểm (viêm, loét, chảy máu dạ dày hoặc loãng xương...) cho NCT. Ngoài ra, có một số người bị bệnh gút nhưng không lường hết các biến chứng có thể gây ra nên chủ quan, khi bị cơn cấp tính thì lo lắng nhưng sau đó lại sinh hoạt, ăn uống không kiêng khem đúng mức làm cho bệnh ngày càng nặng thêm.

Kinh nghiệm điều trị từ một bệnh nhân Gout nhiều biến chứng

Ngày 27/7/2010 ông Nguyễn Văn C sinh năm 1955, trú tại xã Bưng Riềng, Huyện Xuyên Mộc, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đến PK của Cty Viện Gút tại TP.HCM trong tình trạng đau nhức ở nhiều khớp, cơ thể bị phù nề, giữ nước, nặng trên 90 kg.

Hình ảnh Vợ chồng ông C
Những cục tophi ở 2 bên mắt cá và các ngón chân bị vỡ lâu ngày để nhiễm trùng, có cục nhiễm trùng gần 2 năm gây đau đớn mà theo lời BN mô tả như có dòi, bọ bên trong. 2 bàn tay bệnh nhân đang bị sưng, viêm và phù nước khiến cho các ngón tay ông rất đau đớn không thể co duỗi được. Còn 2 đầu gối và cột sống đã bị thoái hóa nặng cộng với hội chứng loãng xương làm cho BN bị đau nhức triền miên.

Theo kết quả cận lâm sàng và lâm sàng, bác sỹ chẩn đoán ông Cường bị Gút mạn tính, rối loạn chức năng gan, rối loạn mỡ máu, huyết áp cao, suy thận độ 1. So với nhiều BN gút bị biến chứng khác, chức năng gan và chức năng thận của ông Cường vẫn chưa đến mức trầm trọng ngoại trừ chỉ số ngộ độc gan và mỡ máu cao hơn 2 lần giới hạn bình thường. Phức tạp hơn cả là tình trạng phù nề, giữ nước của ông Cường bắt đầu từ năm 2003, tái đi tái lại nhiều lần, từ năm 2006 tình trạng phù ngày càng nặng và kéo dài liên tục cho đến khi tới Cty Viện Gút.

Theo người nhà BN, ngoài nhiều lần điều trị tại các bệnh viện thì gia đình còn cắt hàng trăm thang thuốc bắc, thuốc nam nhưng bệnh vẫn không thuyên giảm. BN thường xuyên uống thuốc giảm đau trong một thời gian dài, đặc biệt là trong 4 năm trước khi điều trị tại Cty Viện Gút, hầu như ngày nào BN cũng phải uống thuốc giảm đau, có cả những loại không rõ nguồn gốc. Tình trạng phù nề, giữ nước và và loãng xương, gây đau nhức trong xương tủy của ông Cường (dân gian gọi là mục xương) có thể do thường xuyên sử dụng các loại thuốc giảm đau không rõ nguồn gốc có corticoid.

Diễn biến điều trị :

Gần 2 tuần kể từ khi điều trị, toàn bộ các cục tophi sau 2 năm bị vỡ và nhiễm trùng đã xẹp và liền da. Khi trở lại tái khám sau một tháng điều trị, BN đã giảm được 8 kg, tình trạng đau nhức đã giảm được trên 40%. Các chỉ số xét nghiệm acid uric, chức năng gan, thận, mỡ máu cũng bắt đầu được cải thiện. Khi đài truyền hình TP.HCM đến quay phim phóng sự sau 1 tháng rưỡi điều trị, BN chỉ còn 77kg, giảm 13kg so với trước điều trị. Cục tophi tại ngón chân cái đã nhỏ được trên 50%. BN không còn lệ thuộc vào thuốc giảm đau nhưng tình trạng đau nhức do gút và thoái hóa khớp cũng được cải thiện đáng kể. Hơn 4 tháng kể từ sau khi điều trị, tình trạng sức khỏe của BN đã bình phục nhiều. Hàng ngày bệnh nhân đã bỏ gậy tập đi bộ và đi xe đạp.

Sau hơn 4 tháng điều trị, BN Cường đã có được 3 chuyển biến đặc biệt là :

- Bệnh nhân rút nước, giảm được 15 kg, chấm dứt được tình trạng phù nề liên tục của gần 4 năm chỉ sau 2 tháng điều trị.

- Triệt tiêu được ổ nhiễm trùng sau gần 2 năm trên những cục tophi chỉ sau 2 tuần điều trị.

- Tình trạng đau nhức trong xương, tủy do loãng xương và do thoái hóa cột sống, thoái hóa khớp đã cải thiện 60 – 70%.

Trong lần trở lại tái khám tháng 11/2010, Ông Cường đã vui vẻ cho Bác sĩ biết ông đã có thể quan hệ vợ chồng trở lại sau nhiều năm không còn ham muốn.

Kinh nghiệm rút ra từ trường hợp bệnh nhân Cường :

Ông Nguyễn Văn Cường là bệnh nhân Gout bị biến chứng nặng nhất trong số hàng trăm bênh nhân bị biến chứng mà Cty Viện Gút đã và đang điều trị thành công. Việc ông Cường có chuyển biến nhanh như vậy là nhờ 2 yếu tố :

- Do thuốc và phác đồ điều trị của Cty Viện Gút giúp cải thiện và phục hồi chức năng của gan, thận, giải quyết được hậu quả phù nề, giữ nước và nhiễm trùng...

- Là bệnh nhân có nhiều biến chứng nặng nên ngay từ những ngày đầu điều trị ông Cường càm nhận rõ ràng được các chuyển biến của cơ thể. Đang từ chỗ bi quan, tuyệt vọng ông đã phấn chấn, tự tin và thấy yêu đời trở lại. Chính yếu tố tinh thần đã góp phần làm cho tình trạng sức khỏe của ông Cường phục hồi nhanh hơn. Yếu tố tinh thần cũng đã được chứng minh trên nhiều bệnh nhân đã điều trị tại Cty Viện Gút.

Viện Gút Trung tâm điều trị Gút Tại TP.HCM và các tỉnh phía Nam
Bệnh nhân ở các tỉnh phía Nam sẽ khám tại :
Địa chỉ: 13A Hồng Hà, Phường 2, Quận Tân Bình, Thành Phố Hồ Chí Minh
Điện thoại : 08 62968626 Fax : 08 62968627
Điện thoại đường dây nóng : 0982. 180. 080
Website : http://benhgout.net 
Email : viengutvn@gmail.com

Giờ làm việc: Tất cả các ngày trong tuần từ thứ hai đến thứ bảy.
Buổi sáng từ 6h30 - 11h30
Buổi Chiều từ 13h - 16h30 - Từ thứ hai đến thứ bảy

Nguy cơ vô sinh, ung thư do thuốc ngừa thai khẩn cấp

Thuốc ngừa thai khẩn cấp đang bị nhiều bạn trẻ lạm dụng mà họ không hay biết các tác dụng phụ của thuốc làm tăng nguy cơ ung thư vú, ung thư buồng trứng và vô sinh hiếm muộn.

Thuốc ngừa thai khẩn cấp được bác sĩ khuyến cáo sử dụng mang tính giải pháp tình thế khi quan hệ tình dục mà không có các biện pháp tránh thai an toàn. Thế nhưng nhiều bạn trẻ đã dùng thuốc ngừa thai khẩn cấp như biện pháp tránh thai thường xuyên mà không biết đang phải đối diện với nguy cơ ung thư, vô sinh tăng cao.




Lạm dụng thuốc ngừa thai khẩn cấp sẽ hạn chế sự phát triển và rụng trứng, teo niêm mạc tử cung...



Khi vào cơ thể, cơ chế tránh thai của thuốc là dùng lượng nội tiết liều cao để làm rối loạn quá trình rụng trứng và thụ thai trong cơ thể phụ nữ. Thuốc ngừa thai khẩn cấp sẽ tác động vào progesteron để ức chế ngăn rụng trứng hoặc ngăn chặn tác động của progesteron lên màng trong tử cung. Việc này dẫn đến tình trạng thoái hoá và sự bong ra của niêm mạc màng trong tử cung, do đó ngăn ngừa hoặc phá vỡ sự gắn chặt của trứng vào tử cung. Vì vậy, để đảm bảo cho các tuyến nội tiết và cơ quan sinh sản hoạt động theo quá trình sinh lý bình thường, bác sĩ khuyến cáo không nên dùng thuốc ngừa thai khẩn cấp quá 2 lần/tháng (dù là loại 1 viên hay 2 viên).

Sử dụng thuốc ngừa thai khẩn cấp thường xuyên, trong thời gian dài, ngoài việc phải đối diện với các tác dụng phụ như: chóng mặt, buồn nôn, đau đầu, chảy máu giữa chu kỳ kinh nguyệt, rối loạn kinh nguyệt, giảm ham muốn tình dục, tăng nguy cơ ung thư vú, ung thư buồng trứng…Đáng ngại hơn đó là nguy cơ vô sinh hiếm muộn. Dù chưa có kết luận chính thức nào về việc lạm dụng thuốc ngừa thai khẩn cấp sẽ gây vô sinh, nhưng khả năng này lại hoàn toàn có cơ sở. Nếu dùng thuốc quá nhiều sẽ hạn chế sự phát triển và rụng trứng, khi ngừng thuốc thì buồng trứng cần một khoảng thời gian tương đối dài để hồi phục. Ngoài ra, khi dùng quá liều, lạm dụng thuốc trong thời gian dài, thuốc sẽ làm niêm mạc tử cung bị teo lại, niêm mạc mỏng khiến trứng không làm tổ được. Hơn nữa tác dụng phụ thường gặp của thuốc làm rối loạn kinh nguyệt cũng khiến khả năng đậu thai khó khăn hơn, nên nguy cơ vô sinh hiếm muộn tăng cao.

Thuốc ngừa thai khẩn cấp có hiệu quả không cao (khoảng 80%), uống càng lâu sau giao hợp thì thuốc càng giảm tác dụng và hiệu quả tránh thai càng giảm đi nếu dùng nhiều lần. Vì vậy không thể dùng thuốc ngừa thai khẩn cấp thay thế biện pháp tránh thai thường xuyên, thuốc được đào thải ra khỏi cơ thể sau khi uống vài ngày, nên nếu tiếp tục giao hợp không an toàn sẽ có thai ngoài ý muốn. Trong trường hợp tránh thai bằng thuốc thất bại, khi đó chị em có thể phải đối mặt với nguy cơ mang thai ngoài tử cung. Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng cho sức khỏe và khả năng sinh sản.
Theo sức khỏe và đời sống

Ăn Uống lành mạnh cho Sức Khỏe Tim Mạch

Tại sao ăn uống tốt cho sức khỏe tim mạch có thể giúp ngăn ngừa bệnh tim?

Những gì quý vị ăn quan trọng cho sức khỏe tim mạch của quý vị. Thực phẩm quý vị chọn để ăn có thể giúp ngăn ngừa và kiểm soát mức cao huyết áp, chất béo làm xơ cứng động mạch (cholesterol), chất béo trung tính (triglyceride), và đường (glucose) trong máu. Các tình trạng này làm tăng nguy cơ bị bệnh tim của quý vị, nhất là khi quý vị có hơn một tình trạng bệnh.

Dinh dưỡng lành mạnh, đạt được và duy trì số cân lý tưởng của quý vị, năng động và không hút thuốc là các phương pháp sống tốt nhất quý vị có thể thực hiện để tránh bị bệnh tim.
Ăn thêm các loại thực phẩm bảo vệ cho sức khỏe tim mạch – trái cây, rau cải, gạo lứt, và chất béo lành mạnh – và giảm thực phẩm có hại cho sức khỏe tim mạch thì sẽ có lợi nhiều
hơn là chỉ đơn thuần tránh một vài loại thực phẩm. Sự kết hợp các loại thực phẩm tốt cho sức khỏe tim mạch giúp ngăn ngừa sự tích tụ chất béo trong các động mạch và mạch máu, giúp máu chảy về tim quý vị một cách dễ dàng.

Các thực phẩm nào tôi cần ăn nhiều thêm?

Các thực phẩm gốc thực vật bao gồm rau cải và trái cây, gạo lứt, rau đậu (đậu hạt, đậu Hà-lan và đậu lăng), các loại hột, và hạt. Các thực phẩm này có sinh tố và khoáng chất, chất xơ, và các chất sinh hóa thực vật diễn ra một cách tự nhiên sẽ giúp giữ tim quý vị được mạnh khỏe

Ăn 7 đến 10 phần nhỏ rau cải và trái cây mỗi ngày.

Chọn ăn đủ loại và đủ màu sắc, bao gồm chuối, các trái loại trái dâu (berries), bông cải xanh, cà rốt, cải xoăn, cam, rau dền, khoai lang, và cà chua. Chọn ăn nguyên trái thay vì uống nước ép trái cây. Một phần ăn nhỏ là ½ tách rau cải tươi hoặc đông lạnh, 1 tách rau cải màu xanh lá cây, hoặc 1 trái cây cỡ trung bình.
Để giúp tăng thêm số lượng rau quả và trái cây mình ăn, quý vị hãy:
–  Bao gồm 1 trái cây hoặc rau cải trong buổi điểm tâm;
– Ăn ít nhất 2 phần nhỏ rau cải hoặc trái cây cả bữa trưa và bữa chiều; và cho thêm rau cải vào món mì, xà lách trộn, bánh mì xăng- uých, xốt, súp, các món hầm, và món xào.

Ăn 3 hay nhiều hơn 3 phần các loại sản phẩm nguyên hạt mỗi ngày.

Sản phẩm nguyên hạt bao gồm:
Các loại bánh mì làm bằng bột mì nguyên hạt hoặc các loại bột nguyên hạt khác; bành mì nâu, lúa mạch đen, lúa mì bóc vỏ (spelt), lúa mì kamut, lúa mạch, yến mạch, và lúa mì bulgur; gạo lứt và gạo đỏ Bắc Mỹ; và kiều mạch, lúa mì lai giống lúa mạch đen (triticale), hạt kê, và hạt quinoa.


Ăn uống tốt cho bệnh tim mạch
Một phần nhỏ các loại hạt là một lát bánh mì, nửa bánh mì tròn bagel, nửa cái bánh ngô tortilla kiểu Mễ, hoặc ½ tách lúa mạch, lúa mì bulgur, gạo nấu chín.
Để biết thêm thông tin về các cỡ khẩu phần ăn, xin viếng trang mạng Ăn Uống Tốt cho Sức khỏe theo Tài liệu Hướng dẫn Sử dụng Thực phẩm của Canada tại  www.hc-sc.gc.ca/fn- an/food-guide-aliment/index-eng.php.

Ăn 4 đến 5 phần các loại quả hạt hoặc hột mỗi tuần.

Các loại quả hạt và hột chứa các chất béo không bão hòa tốt cho sức khỏe tim mạch, chất xơ, sinh tố, khoáng chất, và các dưỡng chất khác giúp giữ cho tim quý vị được mạnh khỏe. Một khẩu phần các loại quả hạt hay hột là 60 mL (1/4 tách).

Ăn các loại dầu thực vật thay vì mỡ động vật và dầu cây nhiệt đới.

Tiêu thụ chất béo không bão hòa từ dầu thực vật được xem là có lợi cho sức khỏe hơn là tiêu thụ chất béo bão hòa từ mỡ động vật (ví dụ bơ, sữa trâu, mỡ heo) và dầu cây nhiệt đới (ví dụ như dầu dừa và dầu cọ).
Dầu thực vật có các hương vị và cách sử dụng khác nhau trong bếp, nhưng tất cả đều có thể cải thiện mức cholesterol trong máu. Dùng nhiều loại dầu khác nhau để nấu ăn, kể cả dầu ô-liu thật tinh chất, dầu đậu nành, và dầu cây hạt cải, cũng như các loại bơ không hydrô-hóa được làm từ các loại dầu này.
Chất béo omega-3 là các chất béo không bão hòa dạng đa thể tìm thấy có trong cá và một số thực phẩm thực vật. Các loại chất béo omega-3 trong cá thì khác với những loại được tìm thấy trong thực phẩm thực vật. Tất cả các chất béo omega-3 đều tốt cho sức khỏe tim mạch của quý vị, nhưng các chất béo có trong cá thì có lợi nhất.

Cố gắng ăn ít nhất 2 phần cá một tuần

Chọn cá có chất béo, chẳng hạn như cá trích, cá thu, cá hồi, cá mòi hoặc cá hương. Các loại cá này chứa nhiều lượng chất béo omega-3 hơn. Một phần ăn nhỏ là 75 grams (2 ½ ounces).

 Cố gắng ăn thêm chất béo omega-3 từ thực vật

Các nguồn thực vật có chất béo omega-3 bao gồm hạt chia và hạt cây gai dầu (hemp), hạt cây lanh, quả óc chó (walnut), đậu nành, đậu hũ, và dầu cậy hạt cải (canola). Dùng các thực phẩm này để tăng thêm sự phong phú cho các bữa ăn chính và ăn phụ của quý vị bằng cách rải hạt walnut hoặc các loại hạt khác lên món sà lách trộn, ngũ cốc chế biến khô (cereal), và sữa chua (yogurt), và bằng cách dùng đậu hũ thay vì dùng thịt cho các món súp thịt, chiên xào, và các món xốt.
Những thực phẩm nào tôi nên hạn chế hoặc tránh dùng?
Các thực phẩm có nhiều chất béo trans và bão hòa
Ăn thực phẩm có nhiều chất béo trans và bão hòa có thể gia tăng nguy cơ bệnh tim mạch của quý vị. Các thực phẩm chủ yếu có nhiều chất béo trans bao gồm mỡ pha vào bánh cho xốp giòn, bơ thực vật đặc, thực phẩm chiên dòn, bánh pizza đông lạnh mua ở tiệm, bánh pâté nướng, các loại bánh tây (cookies), bánh ngọt, và bánh quy giòn. Các thực phẩm nhiều chất béo bão hòa phần lớn có gốc động vật và bao gồm các thực phẩm như thịt đỏ, thịt được chế biến, phó mát, kem, sữa béo, và sữa nguyên chất .
Để giảm tiêu thụ thức ăn nhiều chất béo trans và bão hòa:
Hãy xem tổng số grams của chất béo trans ghi trên bảng Liệt kê Số liệu Dinh dưỡng ở các thực phẩm đóng gói sẵn. Hãy chọn thực phẩm liệt kê “0” (số không) grams chất béo trans.
  • Thay các bữa ăn có thịt bằng cá hoặc rau củ chẳng hạn như các loại đậu, đậu Hà-lan, và đậu lăng.
  • Lột bỏ da gà, da gà tây, và da các loại gia cầm khác trước khi nấu ăn.
  • Chọn thịt nạc, chẳng hạn như thịt nạc lưng, nạc mông, và nạc thăn. Cắt bỏ bất cứ chỗ nào có mỡ.
  • Dùng sữa ít chất béo, sữa chua, và phó mát.
  • Chọn thực phẩm nướng vĩ, hấp, hoặc đút lò thay vì loại chiên ngập dầu khi ăn ở tiệm.
Các loại hạt tinh chế và sản phẩm làm từ hạt
Hạn chế ăn ngũ cốc chế biến có ít chất xơ trong buổi điểm tâm, gạo trắng, và bánh mì, quà vặt, và bánh trái làm bằng bột trắng đa năng, bột được tinh chế, hoặc bột mì. Các loại hạt tinh chế trong các thực phẩm này chứa ít các thành phần dinh dưỡng tốt cho sức khỏe được tìm thấy trong các loại sản phẩm nguyên hạt, bao gồm chất xơ, khoáng chất, và các chất sinh hóa thực vật.
Nước uống có đường
Thức uống ngọt chứa thêm chất đường tạo năng lượng nhưng có ít hoặc không có dưỡng chất và thường thay cho những sự lựa chọn khác tốt cho sức khỏe hơn như nước hoặc sữa. Nước uống có đường bao gồm nước ngọt có ga, nước uống năng lượng, nước uống trái cây, nước uống thể thao, nước đá nhận, nước chứa sinh tố, và các loại thức uống cà phê và trà đặc biệt.
Năng lượng trong nước uống có đường có thể khiến làm tăng cân. Tăng cân ảnh hưởng đến khả năng của cơ thể quý vị trong việc điều hòa áp huyết, mỡ và đường trong máu, gia tăng đáng kể nguy cơ bị bệnh tim của quý vị.
Thực phẩm có nhiều muối (sodium)
Bất cứ ai cũng cần một ít sodium, nhưng quá nhiều muối có thể làm tăng huyết áp và gia tăng nguy cơ bị bệnh tim. Đa số người lớn chỉ cần 1500mg sodium mỗi ngày. Để giảm lượng sodium trong chế độ ăn uống của quý vị:
+ Ít ăn các loại thực phẩm đã đóng gói, chế biến sẵn và ít ăn tiệm.
+ Hạn chế thực phẩm chế biến, bao gồm thịt nguội, thịt ba chỉ, xúc xích, thịt xúc xích nóng kẹp bánh mì (hot dogs), và xúc xích có rắc thêm tiêu (pepperoni).
Tự làm các bữa ăn cho mình bằng cách dùng các thành phần nguyên liệu ít hoặc không có sodium, chẳng hạn như rau thơm và gia vị.
Dùng % Giá Trị Hàng Ngày (Daily Value) (%DV) ghi trên Bảng Liệt kê Số liệu Dinh dưỡng để so sánh các sản phẩm. Chọn thực phẩm có 15% DV hoặc ít hơn cho chất sodium.
Tôi có thể làm gì để duy trì một số cân tốt cho sức khỏe?
Duy thì một số cân tốt có thể giảm thiểu nguy cơ bị bệnh tim của quý vị và cải thiện vấn đề sức khỏe tim mạch.
Để giúp quý vị đạt được số cân tốt cho sức khỏe:
+ Hãy làm theo các đề nghị ghi trong tài liệu Ăn Uống Tốt cho Sức khỏe theo Hướng dẫn Sử dụng Thực phẩm của Canada chung quanh vấn đề con số và cỡ khẩu phần quý vị cần từ mỗi nhóm thực phẩm.
+ Dùng các đĩa (có đường kính từ 9 đến10 phân tây), tô, và ly nhỏ hơn để giúp kiểm soát các khầu phần ăn.
+ Khi ăn trưa và ăn chiều, hãy lấy phân nửa đĩa thức ăn của quý vị với rau cải.
+ Vận động thể lực mỗi ngày.
Nguồn: Healthlink BC Hội Tim và Đột Quỵ của Canada

Chăm sóc sức khỏe tại nhà cho bệnh nhân sau phẫu thuật phaco


Chăm sóc sức khỏe tại nhà cho bệnh nhân sau phẫu thuật phaco (đục thủy tinh thể) cần có một phương pháp chăm sóc khoa học để mắt có thể mau lành. Trong bài viết này, MHC xin chia sẻ cùng Quý bạn đọc những lưu ý quan trọng trong việc chăm sóc sau phẫu thuật phaco (đục thủy tinh thể).


Phải đảm bảo rằng bạn đã rửa tay sạch sẽ trước khi nhỏ thuốc nhỏ mắt.

Phẫu thuật Phaco (viết tắt của phacoemulsification). Đây là một phương pháp điều trị đục thủy tinh thể tiên tiến. Phẫu thuật viên lấy thủy tinh thể bị đục (cườm khô) ra bằng cách sử dụng sóng siêu âm nhũ tương hóa thủy tinh thể, nghĩa là phẫu thuật viên làm cho nó nhão ra và tách thành nhiều mảnh nhỏ rồi hút ra ngoài. Sau đó phẫu thuật viên đặt trở vào một thủy tinh thể nhân tạo (gọi là kính nội nhãn-IOL).

1. Bạn nên làm gì sau khi phẫu thuật Đục thủy tinh thể (Phaco)
Nếu bạn nằm viện hay nghỉ bệnh sau phẫu thuật Phaco, nên cố gắng nghỉ ngơi.
Bạn có thể đọc sách và xem Tivi. Tập thể dục nhẹ nhàng cũng cần thiết. Bạn có thể đi ra ngoài nhưng cố gắng tránh nơi đông người và bụi bẩn. Mang kính râm khi bạn ra ngoài có thể giúp giữ mắt thoải mái và ít nhạy cảm với ánh sáng.
Bạn sẽ được cho sử dụng thuốc nhỏ mắt trong khoảng 1 tháng để ngăn chặn nhiễm trùng và giảm viêm nhiễm. Làm theo hướng dẫn của bác sĩ cẩn thận. Nếu cần thiết, nhờ người nhà hay bạn bè nhỏ mắt cho bạn. Nếu bạn đã đi ra ngoài, phải đảm bảo rằng bạn đã rửa tay sạch sẽ trước khi nhỏ thuốc nhỏ mắt.
Nếu có đau nhẹ, bạn nên uống paracetamol. Nếu triệu chứng đau vẫn không khỏi sau khi dùng thuốc, hãy gọi bác sĩ của bạn.
Khi bạn ngủ, nhớ đặt tấm che lên mắt ít nhất trong vòng 1 tuần để bạn không đụng vào mắt đã được phẫu thuật.

2. Bạn không nên làm gì sau phẫu thuật phaco?
Trong một vài ngày đầu tiên, thị lực của bạn có thể bị mờ, vì vậy hãy cẩn thận để tránh bị té hay làm tổn thương đầu hay mắt của bạn, đặc biệt nếu mắt phẫu thuật đã bị bịt lại và mắt còn lại cũng đang trong tình trạng thị lực mờ.
Tình trạng phổ biến là mắt bị ngứa, khó chịu và chảy dịch sau phẫu thuật. Tuy nhiên, trong tháng đầu tiên, tránh chà hay đụng vào mắt. Cũng tránh để bụi hay nước xà phòng dính vào mắt. Không được bơi; không sử dụng bình nước nóng, đi xông hơi hay spa. Điều này là do có một vết thương nhỏ trong mắt của bạn, và bạn cần ngăn chặn nó bị hỏng.
Cho dù vết thương của bạn nhỏ như thế nào, bản thân bạn nỗ lực tránh làm tổn thương nhiều nhất có thể. Cố gắng không cúi xuống, mang vác vật nặng hay tập thể dục mạnh. Hãy để mắt lành lại.
Bạn có thể nhận thấy rằng kính đang đeo trước kia không còn đúng nữa sau phẫu thuật. Điều này là do năng lượng của mắt phẫu thuật đã thay đổi do phẫu thuật. Thường năng lượng của mắt phẫu thuật sẽ ổn định sau 1 tháng phẫu thuật, đã đến lúc bạn nên đo lại mắt để thay đổi mắt kính mới.
Tránh lái xe hơi hay motorbike cho đến khi bạn cảm thấy tự tin rằng thị lực của bạn đã tốt.

3. Thuốc và chế độ ăn uống
Trong vòng một vài tháng đầu, vui lòng vệ sinh mắt phẫu thuật nhẹ nhàng với nước rửa saline và bông rửa mà bạn được cung cấp. Bạn có thể tiếp tục vệ sinh mắt với nước nấu sôi để nguội và sử dụng gạc cotton sau đó.
Vui lòng sử dụng thuốc nhỏ mắt và thuốc như đã hướng dẫn, thậm chí khi bạn cảm thấy rằng mắt bạn đã ổn. Không nhỏ bất cứ gì vào mắt của bạn ngoại trừ thuốc nhỏ đã chỉ định. Luôn rữa sạch tay trước khi nhỏ mắt.
Giữ thuốc nhỏ mắt và thuốc như đã chỉ định. Không giữ chúng lâu hơn thời gian cho phép theo hướng dẫn bởi vì chúng có thể bị hư.
Lắc chai thuốc nhỏ mắt trước khi dùng. Nghiêng đầu bạn ra sau, nhìn lên và kéo mi mắt dưới xuống. Chỉ nhỏ 1 giọt vào mắt, tránh tiếp xúc với lông mi. Đợi 5 phút trước khi nhỏ thêm 1 giọt khác.
Bạn có thể ăn uống như thường lệ. Không kiêng cữ ăn sau phẫu thuật cườm. Bất cứ chế độ ăn nào trước phẫu thuật nên được tiếp tục.
Có thể bạn quan tâm : chăm sóc sức khỏe tại nhà

4. Khi nào bạn cần gặp lại bác sĩ sau phẫu thuật?
Bạn nên quay lại tái khám một ngày sau phẫu thuật. Lịch hẹn tiếp theo thường là 1 tuần và 1 tháng sau phẫu thuật.
Nên giữ tất cả lịch tái khám thậm chí nếu bạn cảm thấy tình trạng đã ổn và thị lực tốt.

5. Khi nào bạn nên gọi bác sĩ?

Bạn đừng do dự trong việc liên lạc với chúng tôi nếu bạn trãi qua những triệu chứng sau:
Đau mà không đỡ sau khi dùng thuốc.
Thị lực kém đi.
Chảy dịch nhiều ở mắt phẫu thuật.
Bất thình lình mắt bị chói và nhòa.

Các bà mẹ sinh con lần đầu cần biết

Để mẹ và bé có sức khỏe tốt ngay sau khi sinh, các bà mẹ sinh con lần đầu cần biết những kiến thức cơ bản nhưng quan trọng sau đây.

ba me sinh con lan dau can biet
Sữa mẹ chứa 80 –90% là nước nên mẹ phải uống nhiều nước,
1. Thể trạng của bé khi mới chào đời:
– Lúc mới sinh, ruột bé chứa một chất màu sậm, dính gọi là phân su. Sau khi bú, phân sẽ đổi màu. Mẹ nên cho bé bú theo nhu cầu, không nên canh theo giờ, cũng không nên để bé ngủ quá lâu trên 4 giờ mà chưa dậy bú.
– Do sức ép của tử cung lúc rặn đẻ, đầu bé có thể hơi biến dạng nhưng sẽ trở lại bình thường sau 2 tuần.
– Tay và chân có sắc xanh do hệ tuần hoàn chưa hoạt động thích nghi. Những đốm đỏ hay những vết sần sùi xuất hiện trên da là bình thường và sẽ biến mất sớm.
2. Dinh dưỡng cho mẹ:
– Qua hành trình vượt cạn, mẹ mất nhiều máu, mệt mỏi do co hồi dạ con nên ăn uống không ngon miệng ngay được. Cung cấp năng lượng cho mẹ bằng thức ăn loãng, hấp thu nhanh và dễ tiêu hoá. Một ngày sau sanh, mẹ có thể ăn uống trở lại bình thường.
– Sữa mẹ chứa 80 –90% là nước nên mẹ phải uống nhiều nước, tốt nhất là sữa tổng hợp dưỡng chất thiết yếu cho bé và thức ăn loãng.
– Ăn thức ăn có đầy đủ chất đạm, vitamin, muối khoáng… Ăn quá nhiều gia vị làm ảnh hưởng mùi vị sữa mẹ, bé sẽ chê sữa mẹ. Ăn quá mặn sẽ gây phù, cao huyết áp, nguy hiểm cho sức khoẻ của mẹ.
– Không nên kiêng khem nếu mẹ thấy ngon miệng, cần ăn nhiều rau, trái cây để chống táo bón.
3. Lưu ý:
– Nếu mẹ bị lở đầu vú, đầu vú nhỏ, bị tụt vào trong, có thể vắt sữa ra cốc và cho bé uống bằng thìa nhỏ.
– Trường hợp mẹ bị bệnh lý chống chỉ định cho con bú bằng sữa mẹ như: viêm gan, suy tim… có thể nuôi bé bằng sữa công thức.
– Điều chỉnh lượng sữa, số lần bé bú một ngày dựa vào sự tăng cân và chất lượng phân của bé.
– Nếu bé bị táo bón có thể do pha ít sữa nhiều nước.
– Phân loãng và có hột, bé đi tiêu trên 10 lần một ngày có thể do pha quá nhiều sữa, bé không tiêu hoá được hết. Nên chọn loại sữa phù hợp với cho từng tháng tuổi của bé./.
Theo Phụ nữ TPHCM Chăm sóc sức khỏe tại nhà

Kiểm tra để giúp chấn đoán bệnh gút

Kiểm tra để giúp chấn đoán bệnh gút cần thường yêu cầu làm các cận lâm sàng như: Xét nghiệm, hút dịch khớp, chụp x-quang, siêu âm.

Kiểm tra để giúp chấn đoán bệnh gút

Mục đích của hút dịch khớp: là để xác định tinh thể urat có lắng đọng trong dịch khớp không. Tại các trung tâm chuyên sâu khám bệnh gút bác sĩ thường chỉ định bệnh nhân hút chọc dịch khớp tại nơi mà cơn đau gút đang xảy ra. Theo tiêu chuẩn chân đoán của ILAR và Omeract 2000: Nếu phát hiện tinh thể urat dưới kính hiển vi phân cực có thể xác định bệnh gút.
tinh-the-urat
tinh-the-urat

Xét Nghiệm máu:  Trong quá trình điều trị bệnh gút, chỉ số acid uric luôn luôn được theo dõi để có thể đánh giá nồng độ acid uric máu trong cơ thể người bệnh và ảnh hưởng của nó đến việc điều trị. Cũng cần phải khẳng định tăng acid uric chưa phải là tiêu chuẩn để chẩn đoán bệnh gút, đây chỉ là yếu tố cần được chú ý khi chẩn đoán gút. Gút là bệnh lắng đọng tinh thể muối urate natri trong cơ thể. Nguyên nhân gây kết tủa tinh thể muối urate natri là do tăng acid uric máu (> 7mg/dl đối với nam và >6mg/dl đối với nữ).
Xét nghiệm máu chấn đoán bệnh gút
Xét nghiệm máu chấn đoán bệnh gút
  • Nghi ngờ sỏi thận urat (do acid uric máu tăng cao gây lắng đọng tại thận)
  • Đánh giá tác dụng của thuốc điều trị hạ acid uric máu
  • Kiểm tra nồng độ acid uric trên bệnh nhân ung thư điều trị liệu pháp hóa học trị liệu hoặc phóng xạ, điều trị ung thư gây chết tế bào và làm tăng acid uric trong máu.

Nồng độ acid uric trongNamNữ
Máu3,6 – 8,5 mg/dL hay 214 – 506 mol/L2,3 – 6,6 mg/dL hay 137 – 393 mol/L
Nước tiểu250 – 1000 mg/24h hay 1,5 – 5,9 mmol/24h
Mẫu nước tiểu lấy ngẫu nhiên105 – 595 mg/g cretinin95 – 740 mg/g cretinin
Dịch khớp2-6 mg/dL hay 0,1 – 0,3 mmol/L
Chụp Phim X-Quang: Có rất nhiều bệnh nhân đã bị tổn thương khớp tuy nhiên bằng mắt thường thường không thấy được, sự phá hủy khớp, xương thể hiện rất rõ khi chụp phim X-Quang, việc xác định tổn thương xương khớp, giúp cho bác sĩ cho liệu trình phù hợp cho từng bệnh nhân.
Siêu âm:  Dấu hiệu bờ đôi trong siêu âm khớp ở bệnh nhân gút.
Siêu âm chấn đoán bệnh gút
Siêu âm chấn đoán bệnh gút
Nếu đợi xuất hiện cơn gút cấp xảy ra ở khớp mới chẩn đoán là bệnh gút như lâu nay vẫn làm sẽ dẫn đến chẩn đoán trễ và chẩn đoán thiếu các tổn thương ở nhiều cơ quan khác do urate lắng đọng tại đó gây ra. Tiêu chuẩn vàng để chẩn đoán bệnh gút là chọc dịch khớp và xác định sự có mặt của các vi tinh thể muối urate natri trên kính hiển vi phân cực. Tuy nhiên, với những bệnh nhân gút chưa xuất hiện đợt đau gút cấp nào thì khó có thể phát hiện sớm được bệnh gút bằng phương pháp này.
Dual energy CT scan.
Dual-energy-CT-scan
Dual-energy-CT-scan
Đây là loại hình ảnh có thể phát hiện sự hiện diện của các tinh thể urat ở khớp, ngay cả khi nó không bị viêm. Tuy nhiên phương pháp nay không được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam chỉ một số bệnh viện lớn sử dụng phương pháp này  do các chi phí đầu tư trang bị cao.
Tìm thuốc nhanh tổng hợp